Nguồn gene chi phối 50% sức mạnh tri thức của con người, còn môi trường sẽ quyết định nốt phần còn lại

Nguồn gene chi phối 50% sức mạnh tri thức của con người, còn môi trường sẽ quyết định nốt phần còn lại.

Câu chuyện về ý chí của Tổng thống Roosevelt

Thuở nhỏ, không có một dấu hiệu nào của Tổng thống Roosevelt gợi ra, dù chỉ là thoáng qua, về tầm vóc vĩ đại của ông trong tương lai. Roosevelt chỉ là một đứa trẻ ốm đau quặt quẹo, hay âu lo và nhút nhát, mắc bệnh hen nặng tới mức phải ngủ ngồi để tránh bị ngạt thở. Cậu không thể theo học lớp bình thường, buộc cha mẹ phải tự dạy con ở nhà. Lo ngại trước bệnh tình của cậu, các bác sĩ khuyến cáo sau này cậu chỉ nên làm nghề gì ít vận động, tốt nhất là làm bàn giấy và bằng mọi cách phải tránh những hoạt động thể chất cường độ cao.

May mắn thay, trí óc Roosevelt không thỏa hiệp dù với thân thể hay với bác sĩ của cậu. Với trí tuệ mẫn tiệp luôn khao khát học hỏi, bộ nhớ rõ nét như chụp hình và ý chí vươn lên mạnh mẽ, 9 tuổi Roosevelt đã có tác phẩm khoa học đầu tay Lịch sử Tự nhiên của Côn trùng; 16 tuổi, được tuyển thẳng vào trường Harvard; tốt nghiệp với tấm bằng Phi Beta Kappa ; 23 tuổi chạy đua vào cơ quan lập pháp tiểu bang; và một năm sau xuất bản cuốn sách học thuật đầu tiên, nghiên cứu về lịch sử cuộc chiến năm 1812. Ông gặt hái thành công cả trên cương vị nhà sử học, chính trị gia, thậm chí nhà động vật học, triết gia, nhà địa lý, một chiến binh và nhà ngoại giao. Roosevelt trở thành Tổng tư lệnh vào năm 42 tuổi, vị Tổng tư lệnh trẻ nhất trong lịch sử. Ông cũng là Tổng thống duy nhất giành được Huânchương Danh dự Quốc hội, và là Tổng thống Mỹ đầu tiên được giải Nobel Hòa bình.

Điều gì khiến Roosevelt thông minh phi phàm đến vậy, trong khi khởi đầu kém thuận lợi như thế? Rõ ràng, các yếu tố di truyền có giúp vị tổng thống thứ 26 của Hoa Kỳ một tay. Quả vậy, nguồn gene chi phối 50% sức mạnh tri thức của con người, còn môi trường sẽ quyết định nốt phần còn lại. Điều này có hai mặt: Thứ nhất, bất kể con bạn có cố gắng hết mình đến đâu, thì vẫn có giới hạn cho những gì não bộ có thể làm được. Thứ hai, đó mới chỉ là một nửa câu chuyện. Môi trường quanh chúng, đặc biệt là những gì bạn thực hiện ở vai trò làm cha làm mẹ cũng có tác động mạnh đến trí thông minh của con cái bạn. Chúng ta sẽ xem xét cả hạt giống và đất trồng.

Thảo luận về nền tảng sinh học của trí thông minh con trẻ.

Rất nhiều thành phần khác góp phần tạo thành món tên trí thông minh con người, và tôi muốn miêu tả năm thành phần mà bản thân tôi cho là bạn sẽ dễ dàng nắm bắt để cân nhắc khi phải suy tính về thiên tư trí tuệ của con mình. Đó là:

  • Đam mê khám phá
  • Sự tự chủ
  • Óc sáng tạo
  • Giao tiếp ngôn từ
  • Khả năng giải mã giao tiếp phi ngôn từ

Đa phần những đặc tính này đều không được bài kiểm tra IQ đả động đến. Những thành phần này cơ bản đều có nguồn gốc di truyền; có thể dễ dàng quan sát thấy ở trẻ sơ sinh. Năm thành phần liệt kê ở đây, tuy rằng có nguồn gốc từ lịch sử tiến hóa của chúng ta, nhưng lại không hề tồn tại biệt lập với thế giới bên ngoài. Việc dưỡng dục đóng vai trò quan trọng, bất kể một em bé có trí thông minh thiên bẩm hay không.

Tôi có tham dự buổi lễ rửa tội ở nhà thờ Tân giáo cho một em bé 9 tháng tuổi. Mọi thứ khởi đầu khá suôn sẻ. Em bé im ắng nép mình trong vòng tay của người cha, chờ đến lượt mình được vẩy nước thánh trước giáo đoàn. Khi bố mẹ quay ra phía mục sư, em bé liền phát hiện ra chiếc mic cầm tay. Em nhanh chóng cố hết sức tóm lấy chiếc mic từ bàn tay của vị mục sư, thè lưỡi liếm vào đầu chiếc mic. Có vẻ anh chàng tí hon này cho rằng chiếc mic giống như chiếc kem ốc quế và nó quyết định phải kiểm nghiệm giả thuyết của mình. Đây là một hành vi cực kỳ bất hợp lý với giáo lý Tân giáo. Vị mục sư giật chiếc mic ra khỏi tầm tay em bé và lập tức nhận ra sai lầm của mình. Không khác gì một nhà khoa học bị cướp mất dữ liệu, em bé gào lên, gắng vẫy vùng đòi bằng được chiếc mic, trong lúc đó không ngừng thè lưỡi liếm vào không khí. Em bé đang khám phá đấy chứ, mà nó không chấp nhận nổi việc bị làm gián đoạn quá trình truy cầu tri thức. Nhất là khi quá trình ấy lại dính dáng đến món đường ngọt lịm.

Tôi không dám chắc ông bố bà mẹ kia thấy thế nào, chứ riêng tôi thì rất phấn khích khi chứng kiến một ví dụ thú vị đến vậy về lòng nhiệt thành nghiên cứu ở các đối tượng bé thơ này. Hẳn các bậc cha mẹ đã biết trẻ em là các nhà khoa học bẩm sinh từ rất lâu trước khi những chiếc mic kia ra đời. Nhưng chỉ đến nửa sau của thế kỷ XX, chúng ta mới có thể khu biệt những yếu tố cấu thành các hành vi khám phá tuyệt vời ở bé.

Hàng nghìn thực nhiệm kiểu này khẳng định rằng các bé nhận thức được về môi trường xung quanh mình nhờ tự trải nghiệm. Chúng quan sát, đưa ra phán đoán, thiết kế và thực hành những thí nghiệm nhằm kiểm nghiệm các tiên đoán ấy, rút ra bài học và bổ sung tri thức mới ấy vào cơ sở dữ liệu của bản thân đang ngày càng phát triển và phong phú. Các bé ráo riết mà tự nhiên, linh hoạt tuyệt vời và kiên định, nhiều khi đến khó chịu. Bé sử dụng trí thông minh lỏng để “chiết xuất” thông tin, sau đó kết tinh chúng vào bộ nhớ. Chẳng ai dạy bé làm thế, nhưng các bé trên khắp thế giới vẫn làm được điều đó. Nó liên quan đến nguồn gốc tiến hóa mạnh mẽ của hành vi. Các bé bẩm sinh đã là những nhà khoa học, hệt như những gì cha mẹ chúng hồ nghi. Và phòng thí nghiệm của bé là cả thế gian rộng lớn, bao gồm cả chiếc mic ở nhà thờ.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *