Tục ngữ, ca dao về tình cảm gia đình

Ca dao là thể loại văn học đượm chất thơ, thể hiện cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ văn học dân gian. Cái hay, cái đẹp của ca dao chính là nội dung trữ tình của nó. Cũng như các thể loại khác của văn học dân gian, ca dao phản ánh mọi mặt đời sống của con người. Đó  là bức tranh sinh động, phong phú mang đậm bản sắc dân tộc, thể hiện một cách sâu sắc, rực rỡ thế giới quan và nhân sinh quan của  người xưa. Những triết lí nhân sinh trong ca dao Việt Nam thực chất là những kinh nghiệm, những bài học đạo lí, những lời răn dạy hết sức sâu sắc của cha ông được truyền lại qua nhiều đời con cháu. Từ suy ngẫm, chiêm nghiệm, tâm tình của nhiều cá nhân đúc kết qua nhiều thế hệ, tục ngữ, ca dao, dân ca đã trở thành tiếng nói của cộng đồng, của xã hội, thời đại. Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng: Trong tính hiện thực của nó, con người là tổng hoà các quan hệ xã hội. Bản chất của con người chỉ được thể hiện, đánh giá thông qua các mối quan hệ xã hội, cộng đồng; trong đó, quan hệ với cha mẹ, anh chị em, người thân trong gia đình chính là cơ sở, nền móng để hình thành nên các giá trị nhân cách, các mối quan hệ giữa người với người sau này. Dưới đây, chúng tôi muốn tìm hiểu sâu hơn về công ơn của các bậc cha mẹ và tình cảm của con cái dành cho cha mẹ thể hiện trong ca dao.

 

Ai bưng bầu rượu đến đó phải chịu khó bưng về

Em đang ở hầu thầy mẹ cho trọn bề hiếu trung

===

 

Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc,

Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe không.

==

 

Ai đi bờ đất một mình,

Phất phơ chéo áo giống hình trò Ba?

Trò Ba đi học trường xa,

Cơm canh ai nấu, cửa nhà ai lo?

– Cửa nhà đã có con Ba,

Cơm canh con Bốn, rượu trà con Năm,

Một trăm chìa khóa con Sáu cầm,

Giang sơn con Bảy giữ, tảo tần con Tám lo…

===

 

Ai làm cho chuối không cành,

Cho anh không vợ cắn quanh mẹ già.

Mẹ già như mẹ người ta,

Thì anh có vợ trong nhà đã lâu.

Mẹ anh ác nghiệt cơ cầu,

Cho nên anh chịu âu sầu đến nay.

==

 

Ai ơi chồng dữ thì lo,

Mẹ chồng mà dữ mổ bò ăn khao.

===

 

Ai ơi giữ chí cho bền,

Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai.

Xin đừng làm, nói đơn sai,

Tin mình đừng sợ những lời dèm pha.

Anh em một họ một nhà,

Thương nhau chân thật đường xa cũng gần.

==

 

Ai về tôi gửi đôi giày,

Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.

==

 

Anh đi làm mướn nuôi ai,

Cho áo anh rách, cho vai anh mòn?

Anh đi làm mướn nuôi con,

Áo rách mặc áo, vai mòn mặc vai.

==

 

Anh em chín họ mười đời,

Hai người cùng có, chẳng rời nhau ra.

Chị em cùng khúc ruột rà,

Kẻ giàu, người khó, họ xa tám đời.

==

 

Anh em cốt nhục đồng bào,

Vợ chồng là nghĩa lẽ nào không thương.

==

 

Anh em hiền thật là hiền,

Bởi một đồng tiền làm mất lòng nhau.

==

 

Anh em nào phải người xa,

Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân.

Yêu nhau như thể tay chân,

Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy.

==

 

Anh em như chân như tay,

Vợ chồng như áo cởi ngay nên lìa.

==

 

Anh ơi! em bảo anh này,

Công cha nghĩa mẹ cao dày chớ quên.

==

 

Anh về Bình Định thăm cha,

Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hoà thăm em.

==

 

Ba bà đi chợ với nhau

Một bà đi trước kể chuyện nàng dâu

Một bà đi sau tu tu lên khóc

Nhà bà có phúc cưới được dâu hiền,

Nhà tôi vô duyên cưới cô dâu dại

Việc làm thì rái, chỉ tưởng những ăn

Hễ bảo quét sân đánh chết ba gà

Bảo đi quét nhà, đánh chết ba cho

Có mâm giỗ, họ miếng ra miếng vào

Rửa bát cầu ao liếm dĩa quèn quẹt

Đi chợ quên thúng quên quan tiền

Về nhà quên ngõ đâm xiêng vào chùa

Vo chùa thấy hai ông Hộ Pháp mới tô

Nó nghĩ khách tới đầy nhà nhà tôi

Trở ra nó mỉm miệng nó cười

Thằng chồng nó đánh một hồi cẳng chân

Bà đi giữa nghe chuyện phân vân

Rằng dâu tôi cũng không đần không khôn

Mẹ chồng có nói đến con

Thì con tôi chỉ cười dòn nói đưa!

==

 

Bao giờ cá lý hóa long,

Đền ơn cha mẹ ẵm bồng xưa nay.

==

 

Bảo vâng, gọi dạ, con ơi,

Vâng lời sau trước, con thời chớ quên.

Công cha, nghĩa mẹ, khôn đền,

Vào thưa, ra gửi, mới nên con người.

===

 

Bốn con ngồi bốn góc giường,

Mẹ ơi mẹ hỡi mẹ thương con nào.

Mẹ thương con bé mẹ thay,

Thương thì thương vậy chẳng tày trưởng nam.

Trưởng nam nào có gì đâu,

Một trăm cái giỗ đổ đầu trưởng nam.

==

 

Bồng bềnh giữa chốn giang tân,

Bên tình bên nghĩa biết phân bên nào.

Em ơi, nhất lê nhì lựu tam đào,

Bên tình bên nghĩa, bên nào cũng thương.

==

 

Mẹ già như chuối ba hương,

Như xôi nếp mật, như đường mía lau.

==

 

Cá không ăn muối cá ươn,

Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.

==

 

Cái ngủ, mày ngủ cho lâu,

Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về.

Bắt được con giếc, con trê,

Cầm cổ lôi về cho cái ngủ ăn.

==

 

Cha già tuổi đã đủ trăm,

Chạnh lòng nhớ tới đằm đằm lụy sa.

==

 

Cha mẹ để của bằng non,

Không bằng để đức cho con ở đời.

==

Cha mẹ là biển là trời,

Nói sao hay vậy, đâu dám cãi lời mẹ cha.

==

 

Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng,

Con nuôi cha mẹ con tính tháng tính ngày.

==

 

Chăn tằm rồi mới ươm tơ,

Làm dâu rồi mới được như mẹ chồng.

==

 

Chàng ơi! Ơn cha ba năm cúc dục

Nghĩa mẹ chín tháng cù lao

Ai đền ơn cho thiếp mà nhủ thiếp trao ân tình?

==

 

Chẻ tre lựa cật đan nia,

Có chồng con một khỏi chia gia tài.

==

 

Chồng dữ thì em mới lo,

Mẹ chồng mà dữ mổ bò ăn khao.

==

 

Chồng dữ thì em mới rầu,

Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừng.

==

 

Có cha, có mẹ có hơn,

Không cha, không mẹ như đàn không dây.

Mẹ cha như nước, như mây,

Làm con phải ở cho tầy lòng con.

==

 

Có con hơn của anh ơi,

Của như buổi chợ họp rồi lại tan.

==

 

Cơm cha cơm mẹ đã từng,

Con đi làm mướn kiếm lưng cơm người.

Cơm người khổ lắm mẹ ơi!

Chả như cơm mẹ, vừa ngồi vừa ăn.

==

 

Con cò bay bổng bay la,

Bay từ của miếu bay ra cánh đồng.

Cha sinh mẹ đẻ tay không,

Cho nên bay khắp tây đông kiếm mồi.

Trước là nuôi cái thân tôi,

Sau nuôi đàn trẻ nuôi đời cò con.

==

 

Con cò lặn lội bờ sông,

Mẹ đi tưới nước cho bông có đài.

Trông trời, trông nước, trông mây,

Trông cho lúa chín, hột sây nặng nhành,

Trông cho rau muống mau xanh,

Để mẹ nấu một bát canh đậm đà,

Mát lòng sau bữa rau cà,

Cho con mau lớn, việc nhà con lo.

==

Con dâu bắt chí mẹ chồng,

Ngó ra ngoài đồng thấy ổ le le.

==

Con dẫu lớn vẫn là con của mẹ,

Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con.

==

 

Con gái là con người ta,

Con dâu mới thật mẹ cha mua về.

==

Con gái là con người ta,

Con dâu mới phải con bà bà ơi.

==

 

Con lên ba con chửi mẹ cười,

Con lên mười con chửi mẹ khóc.

==

 

Con người có bố, có ông,

Như cây có cội, như sông có nguồn.

==

Con ơi ghi nhớ lời này

Công cha, nghĩa mẹ, công thầy chớ quên.

==

Con tài, lo láo, lo kiêu,

Con ngu thì lại lo sao kịp người.

==

Con thơ tay ẫm tay bồng,

Tay dắt mẹ chồng đầu bạc như bông.

=

 

Công cha ba năm tình thâm lai láng,

Nghĩa mẹ đậm đà chín tháng cưu mang,

Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,

Biết lấy chi đền nghĩa khó khăn,

Hai đứa mình lên non lấy đá xây lăng phụng thờ.

 

=

Công cha đức mẹ cao dày,

Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.

Nuôi con khó nhọc đến giờ,

Trưởng thành con phải biết thờ song thân.

 

Công cha nghĩa mẹ ai đền,

Mà em ông áo ôm mền theo anh?

Công cha nghĩa mẹ chưa đền,

Hiếu trung chưa trả sao em ôm mùng mền theo trai?

 

Tình cảm thiêng liêng mang tên Gia Đình

Gia đình là cái nôi sinh thành của con người, là cầu nối giữa con người với xã hội, là nơi chuyển giao văn hoá giữa các thế hệ. Gia đình vừa là khởi nguồn, vừa là xuất phát  điểm để mỗi cá nhân bước vào cuộc sống, tiếp nhận các giá trị của cộng đồng, hình thành phẩm cách, nuôi dưỡng tâm hồn, sẻ chia tình cảm và sự yêu thương với mọi người. Vì vậy, gia đình giữ vai trò quan trọng, là “tế bào của xã hội”. Gia đình còn là nơi kiến tạo và lưu giữ nét đẹp truyền thống, cốt cách của mỗi nhà, mỗi dòng tộc, mỗi xóm làng… Cho nên, hình ảnh gia đình luôn in đậm trong tâm trí mỗi người và in đậm trong ca dao, tục ngữ của người Việt. Trong gia đình, không gì sâu sắc hơn mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Nói đến mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái là nói đến cái đạo lí, đạo làm người truyền thống của người Việt, người phương Đông. Chẳng phải ngẫu nhiên, trong nhiều công trình  nghiên cứu về tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, các nhà nghiên cứu lại chú ý nhiều đến mối quan hệ đặc biệt này. Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan trong công trình dày dặn “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” [3] đã dành một mục riêng về nói về tình cảm gia đình, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, thậm chí cả quan hệ giữa mẹ chồng với nàng dâu. Nhà nghiên cứu Hoàng Nghĩa Dân [1] thì nhấn mạnh đến “đạo làm người”; còn tác giả Phạm Việt Long cũng chú ý khai thác mối quan hệ này qua chuyên luận “Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình” [2]… Có thể nói, công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ và sự yêu kính, biết ơn của con cái đã trở thành thứ tình cảm thường trực trong sâu thẳm ý thức, tâm hồn của mỗi người dân đất Việt.

Triết lí về nhân sinh, về sự hiếu nghĩa trong mối quan hệ giữa cha mẹ – con cái và ngược lại trong ca dao đã được thể hiện thành  các nguyên tắc, chuẩn  mực đạo lí, đạo    đức sau:

Thứ nhất, công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ là trời bể. Ca dao có nhiều câu, cũng là nhiều cung bậc thể hiện công lao trời bể của các bậc sinh thành: “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra/ Một lòng thờ mẹ kính cha/ Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”, “Mẹ nuôi con bấy lâu rồi/ Nuôi con cho đến thành người mới nghe”; “Ơn cha nặng lắm ai ơi/ Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang”; “Ngày nào em bé cỏn con/ Bây giờ em đã lớn khôn thế này/ Cơm cha, áo mẹ, công thầy/ Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao”…

Có thể nói, ngoài ơn sinh thành, dưỡng dục; tình yêu thương của cha mẹ quả lớn lao như trời biển, mênh mông không thể đo đếm. Ca dao không gợi nhắc, cũng không chủ ý khắc ghi công lao của các bậc cha mẹ, nhưng có một sự thật hiển nhiên mà chẳng cần phải nói thì mọi người con cũng đều hiểu: “Chim trời ai dễ đếm lông / Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày”; “Một mẹ nuôi được mười con / Mười con không nuổi được một mẹ”; “Có cha, có mẹ thì hơn / Không cha không mẹ như đờn không dây”; “Con có cha như nhà có nóc / Con không cha như nòng nọc đứt đuôi”… Trong bất kì hoàn cảnh nào, các bậc cha mẹ đều dồn hết sự yêu thương, lo lắng của mình cho con cái. In dấu trong ca dao, hình ảnh những người mẹ nghèo tần tảo nuôi con trong nghèo khó, cơ cực “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa / Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương”; “Uốn cây từ thuở còn non / Dạy con từ thuở con còn ngây thơ”… đã trở thành bất tử.

Ca dao xưa cũng có một số bài nói đến những thói hư tật xấu, đến quan hệ mẹ chồng nàng dâu. Mối quan hệ này dưới thời phong kiến khá nặng nề bởi nhiều quan niệm, định kiến hủ lậu, nhưng qua thời gian, qua tấm lòng của người mẹ, sự khác biệt giữa con dâu và con đẻ đã được xoá nhoà. Hơn hết mọi lời ca tụng hay dị nghị, sự yêu thương, bao dung và hi sinh hết mình cho con cái mới là bản chất, thiên chức cao đẹp nhất của các bậc cha mẹ. Thực hiện trách nhiệm, bổn phận của mình đối với con cái, các bậc cha mẹ cũng đồng thời thực hiện trách nhiệm đối với gia đình, dòng họ và mở rộng hơn nữa là với cộng đồng, xã hội. Tục ngữ đã có nhiều câu thật ngắn gọn mà càng ngẫm, ý nghĩa càng sâu xa: “Mẹ đánh một trăm, không bằng cha ngăm một tiếng”; “Mẹ ngoảnh đi, con dại; mẹ ngoảnh lại, con khôn”; “Mẹ dạy thì con khéo, bố dạy thì con khôn”; “Gái chậm chồng, mẹ cha khắc khoải”…

Thật khó tìm được thứ tình cảm yêu thương, chăm chút nào, sự dạy bảo, uỷ thác nào của các bậc cha mẹ với con cái sâu sắc hơn như trong những câu ca dao dưới đây:

Con ơi, mẹ bảo con này,

Học buôn học bán cho tày người ta.

Con đừng học thói chua ngoa, Họ hàng ghét bỏ người ta chê cười.

Dù no, dù đói cho tươi,

Khoan ăn, bớt ngủ là người lo toan.

Phòng khi đóng góp việc làng, Đồng tiền bát gạo lo toan cho chồng.

Trước là đẹp mặt cho chồng, Sau là họ mạc cũng không chê cười.

Thế nên, qua ca dao, tình mẫu tử, phụ tử đã trở thành một nét đẹp văn hoá mang đậm nghĩa tình phương Đông truyền thống, nó ăn sâu trong ý thức, tư tưởng, tình cảm của mỗi con người, nó trở thành một thứ triết lí, đạo lí, một hành vi ứng xử: “Con không chê cha  mẹ khó, chó không chê nhà chủ nghèo”.

Thứ hai, tình cảm yêu kính, biết ơn cha mẹ của con cái trong ca dao Việt Nam được thể hiện sâu sắc mà nhuần nhị, cảm động và lắng đọng: “Công cha như núi ngất trời /

Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển đông / Núi cao biển rộng mênh mông / Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi”; “Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ / Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha”… Để ví công sinh thành của cha mẹ, ca dao thường dùng những hình ảnh thật cao rộng, hùng vĩ và sừng sững như những ngọn núi muôn đời vững chãi. Nghĩa mẹ luôn được so sánh với những hình ảnh dòng nước ngọt ngào, mát lạnh, vô cùng, vô tận, có khi êm đềm mềm mại, có lúc tuôn trào mãnh liệt mãi mãi không ngừng nghỉ. Công ơn ấy như đại dương, nồng ấm như vầng dương sưởi ấm mãi cuộc đời con cái. Để đền đáp công ơn ấy, mỗi người con cần hiếu thảo với mẹ cha. Cần biết vâng lời cha mẹ: “Cá không ăn muối cá ươn / Con cãi cha mẹ trăm đường con hư”. Cha mẹ sinh con ra, nuôi dưỡng con khôn lớn suốt cuộc đời nhọc nhằn, cay cực; do vậy, sự hiếu thảo với cha mẹ không chỉ thể hiện qua sự phụng dưỡng, chăm sóc mà còn phải biết giữ tròn đạo hiếu. Đó vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ, vừa là đạo lí của phận làm con. Ca dao có nhiều bài sâu sắc và đa nghĩa, vừa có thể hiểu là lời răn dạy của các bậc cha mẹ, vừa là lời giãi bày, tự nhủ của con cái, anh em với nhau:

Thờ cha mẹ, ở hết lòng,

Ấy là chữ hiếu, dạy trong luân thường.

Chữ nghĩa chính là chữ nhường,

Nhường anh nhường chị là nhường người trên.

Ghi lòng tạc dạ chớ quên, Con em phải giữ lấy nền con em.

 

Làm trai nết đủ trăm đường,

Trước tiên điều hiếu đạo thường xưa nay.

Công cha đức mẹ cao dày,

Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.

Nuôi con khó nhọc đến giờ,

Trưởng thành con phải biết thờ hai thân.

Thức khuya dậy sớm chuyên cần, Quạt lồng ấp lạnh giữ phần đạo con.

Hiếu là lòng biết ơn, kính trọng cha mẹ, chăm sóc chu đáo cha mẹ còn sống, thờ cúng theo lễ nghĩa khi cha mẹ qua đời: “Mỗi đêm mỗi thắp đèn trời / Cầu cho cha mẹ sống đời với con”; “Tu đâu cho bằng tu nhà/ Thờ cha kính mẹ ấy là chân tu”. Con cái bất hiếu thì cũng là bất nhân, không thành người. Là con phải: “Đói lòng ăn hạt chà là / Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”; “Cha già đã dư trăm / Chạnh lòng nhớ tới đằm đằm châu sa”… Sự  hy sinh của mẹ cha thầm lặng mà lớn lao không gì diễn tả được, dẫu biết, dù có bằng cả cuộc đời mình cũng không thể đền đáp đủ nghĩa mẹ công cha, nhất là khi cha mẹ tuổi cao sức yếu, bóng ngả về chiều. Cho dù có khó khăn nghèo khổ đến đâu, tình yêu thương cha mẹ dành cho con cái vẫn dạt dào như sóng biển và con cái đối với cha mẹ cần nguyên vẹn lòng tri ân: “Mẹ già ở túp lều tranh / Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con”… Khi gặp cảnh khốn khó, đạo làm con phải biết chấp nhận để tiếp tục dành tất cả sức lực và tình cảm  chăm sóc cha mẹ già: “Cầm cần câu cá ngược xuôi / Nấu canh rau bợ mà nuôi mẹ già”… Khi con cái lớn lên lập gia đình, làm cha, làm mẹ sẽ cảm nhận rõ hơn những vất vả hi sinh của cha mẹ. Một người con có hiếu sẽ chọn bạn đời biết sống có tình có nghĩa, cùng nhau chăm sóc mẹ cha: “Em không thương anh nhiều ruộng nhiều vườn / Thương vì ý ở biết kính nhường mẹ cha”… Nỗi lòng, mong muốn được ở gần chăm sóc, báo hiếu cha mẹ của mọi người con đều như nhau, nhưng nặng hơn ở những người con gái, bởi gái lớn thì phải lấy chồng, phải có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ chồng. Thế nên, trong ca dao có rất nhiều bài, nhiều câu nói về nỗi nhớ thương thầm kín ấy: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau / Ngó về quê mẹ, ruột đau chín chiều”; “Chiều chiều ngó ngược ngó xuôi / Ngó không thấy mẹ ngùi ngùi nhớ thương”; “Gió đưa cây cửu lí hương / Xa cha xa mẹ, thất thường bữa ăn / Sầu riêng cơm chẳng muốn ăn / Đã bưng lấy bát, lại dằn xuống mâm”…

Thứ ba, con cái có ý thức tu thân, luôn tự răn mình, nỗ lực trong cuộc sống mới thực sự là làm tròn chữ hiếu

Sinh con ra chịu bao vất vả nhọc nhằn, cha mẹ chỉ ước mong sao con khôn lớn lên người. Do vậy, những người con thể hiện lòng hiếu thảo của mình đối với cha mẹ bằng những cố gắng nỗ lực trong học tập và làm việc, trong thành đạt, vinh hiển cho bản thân và gia đình, dòng họ: “Con ơi, muốn nên thân người / Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha / Gái thời chăm chỉ trong nhà / Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa / Trai thì đọc sách, ngâm thơ / Dùi mài kinh sử để chờ dịp thi/ Nửa mai nối nghiệp được nhà / Trước là đẹp mặt, sau là hiển thân”…

Lòng hiếu thảo đôi khi cũng chỉ đơn giản là lao động cần cù, mùa màng bội thu, gia đình thuận hoà êm ấm để mẹ cha yên lòng: “Một mai gặt lúa mang về / Thờ cha, kính mẹ nhiều bề hiếu trung”. Đó là những lời dạy, lời dặn, lời gửi, lời thương và niềm mong muốn của đáng sinh thành đối với con cái. Đồng thời, cũng là mong mỏi của những người con có hiếu để báo ơn đối với cha mẹ.

Hiếu là hạnh phúc khi mỗi ngày còn có cha mẹ và hết lòng thờ phụng cha mẹ  khi khuất núi trong ca dao Việt Nam. Thật hạnh phúc với ai còn cha mẹ bên cạnh để kính cẩn, yêu thương, báo đáp. Đó là niềm vui của những người con hiếu thảo, có cha mẹ bên cạnh và luôn mong cho cha mẹ sống mạnh khỏe, vui vẻ. Dẫu biết rằng sinh- lão- bệnh- tử là quy luật, ly biệt là lẽ tất nhiên, nhưng trên hết vẫn là tình  yêu thương và cầu mong cho cha mẹ sống an nhiên, vui vẻ: “Lâm râm khấn vái Phật trời/ xin cho cha mẹ sống đời với con”… Ca dao cũng khuyên răn con người: “Dạy con con nhớ lấy lời/ Trọng cha, kính mẹ đời đời chớ quên”… Lúc cha mẹ còn sống thì hết lòng yêu thương, khi cha mẹ đã khuất thì phận làm con phải biết thờ cúng cho đúng đạo làm con, cho thanh thản tấm lòng: “Đi về  lập miếu thờ cha / Cắt chùa thờ mẹ, lập trang thờ bà”…

Từ tình cảm máu thịt, từ những nguyên tắc đạo lí tự nhiên này, ca dao Việt Nam cũng có nhiều bài phê phán kịch liệt thái độ, cách ứng xử bất kính đối với cha mẹ: “Đi đâu mà  bỏ mẹ già/ Gối nghiêng ai sửa chén trà ai dâng”; “Sống thì con chẳng cho ăn / Chết rồi xôi thịt, làm văn tế ruồi”… Sự phê phán đó là cần thiết, bởi “cha mẹ sinh con, trời sinh tính”, thời nào cũng có những đứa con hư, không biết giữ tròn đạo hiếu, thậm chí phụ bạc, hắt  hủi cha mẹ. Là tiếng nói tâm tình, là nỗi lòng trăn trở, là lời kí thác của người xưa nhưng nghĩa tình, đạo lí của con người, giữa con người với nhau, đặc biệt giữa cha mẹ và con cái trong ca dao, vì thế, vẫn luôn có ý nghĩa, giá trị trong đời sống hiện tại.

Ca dao, tục ngữ về Gia Đình của người Việt Nam thấm đượm triết lí nhân sinh, có tác dụng răn dạy mỗi con người phải làm tròn trách nhiệm và bổn phận của mình, xứng đáng với công lao như trời biển của mẹ cha.

Người con bất hiếu luôn bị xã hội lên án gay gắt và chê cười. “Tội ác tột cùng, không gì hơn bất hiếu / Tột cùng thiện không gì hơn hiếu”, đó là lời răn của Phật, cũng là triết lí nhân sinh muôn đời của ông cha để lại, gửi gắm trong kho tàng ca dao của dân tộc. Trong thời buổi kinh tế thị trường nhiều biến động, thay đổi tiêu cực hiện nay, việc nghiên cứu triết lí nhân sinh từ mối quan hệ cha mẹ, con cái và ngược lại qua ca dao Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng đạo đức, nhân cách, hành vi ứng xử cho con người trong quan hệ gia đình nói riêng, cộng đồng, xã hội nói chung.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *